Trang chủ >> EB-3 có phải là sự thay thế cho chương trình EB-5?

Ngày nay, trên thị trường, bên cạnh chương trình EB-5 dành cho các doanh nhân đầu tư thì chương trình EB-3 cũng trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Đối tượng khách hàng của chương trình tập trung vào những gia đình không đủ đáp ứng điều kiện chương trình EB-5 hoặc mong muốn được định cư Mỹ với một số tiền tương đối ít. Tuy nhiên, cũng có những vấn đề cần làm rõ trước khi nhà đầu tư đưa ra bất cứ quyết định nào.

EB-3 là chữ viết tắt hạng mục ưu tiên thứ ba của tình trạng thường trú nhân Mỹ dựa trên việc làm (employment-based), hay còn gọi là Thẻ Xanh. Visa EB-3 bao gồm chuyên viên, lao động có tay nghề cao và lao động phổ thông. Những người tham gia muốn có được visa này cần phải có một công việc lâu dài, hợp pháp, toàn thời gian được tuyển bởi những doanh nghiệp tại Mỹ. Những người chủ doanh nghiệp sẽ bắt đầu quy trình bằng cách đạt được chứng chỉ lao động có chấp thuận của Bộ Lao Động Hoa Kỳ, được biết đến là “PERM”, để xác nhận rằng doanh nghiệp đã đăng tin thuê lao động Mỹ, nhưng không tìm thấy người có thể làm và đáp ứng được các điều kiện của công việc đó. Chứng chỉ lao động được yêu cầu với mọi hạng mục phụ của EB-3.

Q: USCIS định nghĩa như thế nào là lao động có tay nghề, chuyên viên hay lao động phổ thông?

“Chuyên viên” là những người mà công việc của họ đòi hỏi bằng tú tài của Mỹ hoặc bằng nước ngoài tương đương và là thành viên trong ngành họ làm việc. Doanh nghiệp phải chứng minh bằng cấp đó là yêu cầu thông thường cho việc tham gia vào ngành nghề.

“Lao động có tay nghề cao” là những người mà công việc của họ yêu cầu tối thiểu 2 năm đào tạo hoặc kinh nghiệm làm việc mà không phải từ công việc tạm thời hay thời vụ.

“Lao động phổ thông khác” là hạng mục phụ dành cho những cá nhân làm lao động phổ thông đòi hỏi ít hơn 2 năm đào tạo hoặc kinh nghiệm làm việc, nhưng không phải từ công việc tạm thời hay thời vụ.

Cả 3 hạng mục nhỏ đều cho thấy họ sẽ làm những việc mà người lao động có sẵn ở Hoa Kỳ không đủ điều kiện. Số visa EB-3 mỗi năm chỉ có tổng cộng 40,000, trong đó 10,000 visa dành cho lao động phổ thông.

Bất kể công việc nào không rơi vào 1 trong 2 hạng mục nhỏ đầu tiên đều mặc định được xem là hạng mục nhỏ thứ 3. Nghề nghiệp yêu cầu ít hơn 2 năm đào tạo hoặc kinh nghiệm làm việc đều được xem là lao động phổ thông. Những công việc thường thấy đó là: dọn phòng, trông trẻ, trông nhà cửa, làm vườn, làm nông, những công việc đơn giản trong nhà hàng…v..v

 

ĐIỀU GÌ ĐANG XẢY RA HIỆN NAY?

Visa EB-3 đang có nhu cầu rất lớn ở các nước Châu Á. Đặc biệt, tại các nơi mà tác giả bài viết đã đi qua là Hàn Quốc và Việt Nam. Vào tháng 03 năm 2016, EB-3 được “rao bán” với các chương trình quảng bá vô cùng rầm rộ. Tại các hội thảo thương mại, bên cạnh EB-5 và L1/ EB-1-C, các công ty di trú giới thiệu các công việc đang được doanh nghiệp Mỹ bảo trợ qua chương trình EB-3.

Nội dung quảng bá là các nông trại, các doanh nghiệp nhượng quyền và các doanh nghiệp khác có những vị trí việc làm và sẵn lòng bảo trợ cho người xin việc dưới chương trình EB-3. Phần lớn rơi vào hạng mục nhỏ thứ 3: lao động phổ thông.

 

BỘ LAO ĐỘNG MỸ HOẠT ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO?

Sự quan tâm ngày càng cao trong việc di dân đến Mỹ đưa các công ty di trú quảng bá visa EB-3 đến đối tượng khách hàng không thể đáp ứng yêu cầu của chương trình EB5 hoặc mong muốn dùng số tiền ít hơn để di dân.

Lãnh sự có thể giám sát xu hướng của các hồ sơ, và khi họ thấy một lượng lớn đơn đang được thụ lý tại Lãnh sự quán của họ với cùng một vị trí (ví dụ: làm việc tại một nông trại hay nhà hàng thức ăn nhanh), họ sẽ rà soát chặt chẽ các bộ hồ sơ này để xác định bất cứ gian lận nào có thể xảy ra.

Việc này xảy ra phổ biến trong hạng mục EB-3 dành cho lao động phổ thông để tìm ra hồ sơ không trung thực. Chính phủ Mỹ - thông qua Bộ lao động Mỹ, Sở Di trú Mỹ và Nhà nước liên bang, cùng nhau làm việc để điều tra ra những chủ doanh nghiệp bảo trợ những bộ hồ sơ đó cũng như các bên liên quan khác. Trong đó có thể bao gồm cả đương đơn. Nếu được xác định rằng những vị trí này là gian dối, toàn bộ trường hợp xin thường trú đều sẽ bị từ chối.

Đương đơn thường không chú ý đến hậu quả của việc đệ trình đơn sai, nhưng với tư cách là người đã ký vào các giấy tờ định cư, họ đã tuyên thệ với chính phủ Mỹ về những thông tin được đệ trình. Sự từ chối vì gian lận không những ngăn họ không nhận được thẻ xanh EB-3 mà còn là "vật chắn" họ trong việc nhập cảnh vào Mỹ trong tương lai, ở cả hình thức visa tạm thời hay là người giữ Thẻ Xanh.

 

CÓ GÌ SAI TRONG VIỆC “RAO BÁN” CÁC VIỆC LÀM EB-3 HIỆN NAY

Cách mà chương trình EB-3 đang được giới thiệu với cộng đồng mâu thuẫn với những quy định của Sở Di Trú Mỹ và Bộ lao động Mỹ. Nếu những chương trình EB-3 được rao “bán” cố tình phá vỡ các quy định , chúng sẽ bị kết tội gian lận. Mục đích chính của Bộ Lao Động là để đảm bảo rằng những người lao động nước ngoài không thay thế người lao động Mỹ.

Chủ doanh nghiệp bảo trợ phải xem xét, phỏng vấn đương đơn và đưa ra cho Bộ lao động hóa đơn của tất cả đương đơn. Nếu bất kì điều luật nào bị phá vỡ, công ty bảo trợ và tất cả cá nhân tham gia vào quy trình sẽ khó tránh khỏi bị khởi tố phạm tội.

 

**Dưới đây là các dấu hiệu cảnh báo mà đương đơn nên cân nhắc khi tìm hiểu các vị trí lao động phổ thông EB-3:

Đương đơn được yêu cầu thanh toán phí luật sư, phí quảng cáo hoặc phí hành chính kết hợp với quy trình EB3. 

> Những quy định của Bộ Lao động Mỹ yêu cầu rằng chủ doanh nghiệp phải chi trả tất cả các chi phí ở giai đoạn đầu của quy trình bảo trợ, bao gồm phí luật sư và tất cả phí quảng cáo liên quan đến bài sát hạch của thị trường lao động. Tại thời điểm này, không có bất cứ yêu cầu ngoại lệ nào và những người lao động cũng như các bên thứ 3 sẽ không cung cấp bất cứ sự hoàn trả hay chi trả các khoản phí nêu trên.

Trả phí cho đại lý để tìm một vị trí có bảo trợ EB-3.

> Không có chi phí nào đối với người lao động trong việc tìm kiếm một vị trí cho người nước ngoài với chủ lao động.

Quảng cáo nhấn mạnh rằng vị trí EB-3 yêu cầu sự tận tụy làm việc trong 12 tháng.

> Những công việc thông qua quy trình PERM được yêu cầu lâu dài và sẽ không hạn chế ngày hoàn thành.

Đương đơn sẽ không nói chuyện với chủ doanh nghiệp bảo trợ, không có bất cứ giao tiếp nào (viết, qua điện thoại, hoặc email) với chủ doanh nghiệp và sẽ không là một phần của quy trình phỏng vấn.

> Nhiều chủ doanh nghiệp bảo trợ và tuyển dụng công dân nước ngoài và các bộ hồ sơ này đều có hiệu lực và có khả năng được chấp thuận.

 

(sưu tầm)

Tin liên quan